Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật hiện hành

Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự là tổng hợp những yếu tố bắt buộc phải được đáp ứng đề cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự.

Khi khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể khởi kiện phải bảo đảm các điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) hiện không có điều luật nào mang tên “Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự”. Tuy nhiên, thông qua các quy định khác có thể rút ra được các điều kiện khởi kiện vụ án dân sự.

Luật gia Hà Văn Dương - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198
Luật gia Hà Văn Dương - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài (24/7): 1900 6198

Thứ nhất, điều kiện về chủ thể khởi kiện


Khi một chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm, theo quy định của pháp luật chủ thể đó có quyền nộp đơn khởi kiện đến tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình. Tuy nhiên, để yêu cầu của họ được Tòa án thụ lý giải quyết thì chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Chủ thể có quyền khởi kiện là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có tranh chấp hoặc các chủ thể khác được pháp luật quy định như cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng... có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Chủ thể có quyền khởi kiện muốn tự mình thấy tiện thì cần phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.


Thứ hai, sự việc thuộc thẩm quyền dân sự của Toà án


Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Cụ thể, vụ việc mà chủ thể khởi kiện thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại các Điều 26, 28, 32 BLTTDS 2015; vụ việc được khởi kiện phải đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền quy định tại các Điều 35, 36, 37, 38 BLTTDS 2015; vụ việc được khởi kiện đúng thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Điều 39 BLTTDS 2015. Trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo quy định tại Điều 40 BLTTDS 2015 thì yêu cầu đương sự cam kết không khởi kiện tại các Tòa án khác. Nếu do thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận. Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó.


Thứ ba, sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định của toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật


Nếu sự việc đã được giải quyết bằng một bản án hay quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật mà Tòa án lại thụ lý giải quyết vụ án thì đã vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Để xác định điều này, Tòa án phải căn cứ vào các tài liệu do đường sự cung cấp về quá trình xảy ra tranh chấp để xác định sự việc đã được giải quyết hay chưa. Tuy nhiên, trong một số trường hợp để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các bên đường sự, mặc dù bản án quyết định giải quyết vụ việc đã có hiệu lực pháp luật, pháp luật tố tụng dân sự quy định cho họ có quyền khởi kiện lại vụ án, đó là các trường hợp sau:


(i) Bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn;


(ii) Yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại;


(iii) Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà tòa án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;


(iv) Các trường hợp khác pháp luật quy định.


Lưu ý, theo quy định của BLTTDS 2015, thời hiệu khởi kiện không còn được coi là một điều kiện khởi kiện nữa. Theo đó, Toà án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Toà án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án.


Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:


  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật tố tụng dân sự được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đàitư vấn pháp luật1900 6198, E-mail:info@everest.net.vn.